Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

Nền kinh tế Ho chi minh city Vietnam

Sự biến đổi lớn trong việc thất thoát được tính trước qua các địa điểm một phần là kết quả của những thừa nhận, những định nghĩa và những phương pháp được sử dụng khác nhau. Tuy vậy, nó cũng bị ảnh hưởng bởi khuôn khổ và tính phức tạp của nền kinh tế Ho chi minh city Vietnam đang được đánh giá, các loại hình khách du lịch và sự phát triển du lịch, và những chính sách và nỗ lực của các đơn vị kinh doanh du lịch cá nhân. Những nền kinh tế nhỏ hơn sẽ có thất thoát nhiều hơn những nền kinh tế lớn hơn vì hàng hoá sản xuất ít đa dạng hơn; tuy thế, ngành du lịch thiên nhiên trên quy mô nhỏ có xu hướng sử dụng hàng hoá địa phương hơn là ngành du lịch truyền thống trên quy mô lớn.
Dưới đây là những ví dụ về các mối liên kết và nhữung thất thoát từ hai doanh nghiệp du lịch.
các mối liên kết và những thất thoát

ở nhà nghỉ hồ bơi Mana

Brown và cộng sự (1995) đã tính toán sự phân bổ các nguồn thu nhập cho những chuyến đi liên quan tới nahf nghỉ hồ bơi Mana ở Zimbabwe (xem Kangas và cộng sự, 1995). Các số liệu sau chỉ ra những nguồn thu từ một chuyến đi chính tới Harare/Hồ bơi Mana/Harare chi phí mất 700 đô la Mỹ được sử dụng như thế nào để mua các loại đầu vào quốc tế, quốc gia và địa phương (chi phí chuyến đi không bao gồm vé máy bay quốc tế tới Harare). Tất cả các số liệu tính bằng đô la Mỹ và được làm tròn tới đồng đô la cận nhất. Cột thất thoát chỉ ra số phần trăm chi trả cho mỗi hạng mục thất thoát khỏi nền kinh tế Zimbabwe. Trong cả tổng số thất thoát, hơn quá nửa một chút, theo những mục đô la, có từ các hoa hồng.
Hạng mục Chi phí Thất thoát theo % chi phí hạng mục
Hoa hồng đại lý bán lẻ
Nhân viên
Ðồ ăn/thức uống
Tổng phí hành chính
Quảng cáo và tiếp thị
Sửa chữa và bảo dưỡng
Năng lượng
Khấu hao
Trao đổi thông tin
Bảo hiểm
Buồng
Vận tải và Giao thông
In ấn và văn phòng phẩm
Ði lại (a)
Các loại thuế
Lợi nhuận
$ 140
82
68
60
60
47
42
28
5
5
3
1
1
1
27
131
72%
0%
2%
0%
80%
24%
43%
43%
0%
0%
0%
50%
2%
20%
0%
0%
TỔNG $ 700 27%
Ghi chú: (a) Mặc dù không quy định trong báo cáo, điều này có lẽ đại diện cho đi lại của nhân viên


các mối liên kết và những thất thoát ở biển canoe

Biển Canoe, một đơn vị du lịch đóng ở Thái lan, đã cung cấp những số liệu sau. Chúng minh họa tình trạng chi tiêu của công ty về các khoản mua, cùng với nhưng liên kết và thất thoát gắn liền với những khoản mua hàng này.
Hạng mục Hạng mục theo % bán Thất thoát
Nhân viên (gồm cả đào tạo)
Các khoản hoa hồng
Các dịch vụ địa phương
Tổng phí hành chính
Trang thiết bị
Trao đổi thông tin
Phân phối
Ði lại
PhHo chi minh city Vietnam lợi
Tiếp thị
Thực phẩm
Sửa chữa
Bưu phí
Các loại thuế
Lợi nhuận
35%
15%
15%
4%
3%
3%
3%
3%
2%
2%
1%
0.5%
0.5%
6%
7%
(a) 35%
13%
(b)15%
4%
0%
3%
0%
1%
2%
1,5%
1%
0,5%
0,5%
6%
7%
0%
2%
0%
0%
3%
0%
(c)3%
2%
0%
0%
0%
0%
0%
0%
0%
TỔNG 100% 89,5% 10,5%
Ghi chú:
(a) đại diện cho nhân viên bao gồm cả nhưũng người Tây Âu sống và trả thuế ở Thái lan
(b) đại diện thuê thuyền từ những người dân Ho chi minh city Vietnam
(c) đại diện việc chi trả cho công ty cổ phần chi trả các chi phí cho tiếp thị quốc tế, nghiên cứu và phát triển (công ty tiêu tiền vào đi lại và các dịch vụ ở những nơi mới, có tiềm năng).

Vườn quốc gia tại Ho chi minh city Vietnam

Những tác động trực tiếp, gián tiếp và hệ quả đối với vườn quốc gia dorrigo Powell và Chalmers (1995) đã sử dụng những khảo sát về du khách và phân tích đầu ra, đầu vào để tính toán tác dộng của sự chi tiêu của du khách ở hai vườn quốc gia tại Ho chi minh city Vietnam. Những khảo sát về du khách được sử dụng để tính toán những tác động trực tiếp của du lịch sinh thái. Phân tích đầu vào đầu ra liên quan toiws việc tổng hợp các bảng biểu chỉ ra khuôn khổ của mỗi khối trong khu vực được quan tâm, cũng như những khối này được nối kết với nhau như thế nào. Ví dụ, nó chỉ ra bao nhiêu tiền khối Dịch vụ Cá nhân, bao gồm cả các khách sạn và nhà hàng chi tiêu vào những chi phí đầu vào từ tất cả những khối khác trong khu vực. Thông tin này được sử dụng để tính toán những tác động gián tiếp và hệ quả cảu du lịch sinh thái.
Nghiên cứu đưa ra một con số tính toán là 3,2 triệu đô la Ho chi minh city Vietnam chi tiêu hàng năm của khách du lịch cộng với 342.000 đô la Ho chi minh city Vietnam chi tiêu hàng năm của hãng (tỷ giá 1 đô la Ho chi minh city Vietnam = 0,7 đô la Mỹ). Lý giả cho những tác động gián tiếp và hệ quả, người ta đã tính toán là Vườn Quốc gia Dorrigo, với xấp xỉ 160.000 du khách hàng năm, đóng góp hầu hết 4 triệu đô la Ho chi minh city Vietnam vào đầu ra của khu vực, 1.5 triệu đô la Ho chi minh city Vietnam vào thu nhập hộ gia đình của khu vực, và chi trả cho 71 nhân viên. Những con số này đại diện cho 7-8% tổng số khu vực cho mỗi loại hình. Ðầu vào đầu ra cũng đã được sử dụng rộng rãi ở Mỹ để cung cấp những loại hình thông tin tương tự (Dawson và cộng sự, 1993; Johnson và cộng sự, 1989).
clip_image001
Người ta nghĩ rằng hơn 90% chi tiêu du lịch bị thất thoát khỏi những cộng đồng lân cận hầu hết các điểm du lịch thiên nhiên Ho chi minh city Vietnam. Ví dụ, Baez và Fernandez (1992) tính toán là dưới 6% thu nhập do du lịch mang lại từ Vườn Quốc gia Tortuguero, ở Costa Rica, trích trước cho các cộng đồng địa phương. các số liệu tương tự cũng được tính toán cho cho khu vực Annapurna ở Nê-pan (Panos, 1997) và caaasc số liệu thấp hơn về xem cá voi ở Baja California, Mexico (Dedina và Young, 1997). ở Tangkoko DuaSudara ở In-đô-nê-xi-a, phân phối lợi ích là 47% cho công ty du lịch lớn, 44% cho khách sạn, và chỉ 7% cho các hướng dẫn viên (trong đó trưởng đội bảo vẹ khu bảo tồn nhận được 20%). hướng dẫn viên và đồ ăn thường được mang từ thủ phủ của tính tới, do vậy một ít lợi ích được giứ lại ở cấp thôn bản (Kinnaird và O'Brien, 1996).

Du lịch sinh thái Ho chi minh city Vietnam

Những khái niệm và tính toán tác động kinh tế

Nhiều nghiên cứu về những tác động kinh tế về mặt quốc gia, khu vực và địa phương của du lịch sinh thái Ho chi minh city Vietnam đã được tiến hành. Ví dụ, Aylward và cộng sự (1996) ngàn du lịch thiên nhiên ở Costa Rica đã gây được khoảng $600 triệu đô ngoại hối năm 1994 (Wells, 1993). Driml và Common (1995) tính toán rằng các du khách tới Khu Di sản Thế giới Rạn TRƯỜNG SAN HÔ Ở Ho chi minh city Vietnam đã chi tiêu 776 triệu đô la HO CHI MINH CITY VIETNAM (tương đương 543 triệu đô la Mỹ) năm 1991/1992. Lindberg và cộng sự (1996) tính toán là những du khách tới Khu bảo tồn Biển Hol Chan và các địa điểm biển lân cận tạo công ăn việc làm cho 44% những hộ gia đình ở San Pedro và 26% hộ gia đình ở Caye Caulker.

Sự đóng góp kinh tế của du lịch sinh thái phụ thuộc không chỉ vào bao nhiêu tiền chảy vào khu vực được quan tâm (đát nước, bang, tỉnh thành, cộng đồng địa phương) mà còn phụ thuộc vào bao nhiêu tiền vào khu vực đọng lại được ở khu vực để do vậy tạo ra được những tác động nhân bội. Có thể nhóm tác động của du lịch sinh thái hay bất cứ hoạt động du lịch nào khác vào ba loại hình sau: trực tiếp, gián tiếp và hệ quả. Những tác động trực tiếp là những tác động phát sinh từ chi tiêu đầu tiên cho du lịch, như tiền tiêu ở nhà hàng. Nhà hàng mua hàng hoá và dịch vụ (đàu vào) từ các nhà kinh doanh khác, do đó tạo ra những tác động gián tiếp. Ngoài ra, nhân viên nhà hàng chi tiêu một phần tiền lương của họ để mua các hàng hóa và dịch vụ khác, do vậy tạo ra những tác động hệ quả. Ðương nhiên, nếu nhà hàng mua hàng hóa và dịch vụ từ bên ngoài khu vực, thì tiền không tạo ra tác động gián tiếp tới khu vực - nó dẫn đi mất. Số liệu bảng 4.1. là một minh họa được đơn giản hóa về một số những rò rỉ và tác động này (Nourse, 1968; Walsh, 1986).

Bản khám phá nhất quán về những nghiên cứu về tác động kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, là mức độ rò rỉ cao. Hầu hết khoản chi tiêu du lịch Ho chi minh city Vietnam ban đầu biến khỏi đất nước chủ nhà (và đặc biệt bản thân ddiaaj đỉem tham quan), để chi trả cho những hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu sử dụng trong ngành công nghiệp du lịch. Các ví dụ sau là những tính toán số phần trăm chi tiêu du lịch rò rỉ khỏi nền kinh tế của những nước chủ nhà: Nê-pan (70%), Thái lan (60%), các nước đang phát triển chủ yếu (55%), Zimbabwe (53%), Costa Rica (45%); (Brandon, 1993; Brown và cộng sự, 1995; Lindberg, 1991; Smith và Jenner, 1992).

Du lịch Ho chi minh city Vietnam

Coi ví dụ về một khách du lịch Ho chi minh city Vietnam muốn tham quan Vườn Quốc gia Amboseli ở Kê-ni-a. Bà ta có thể mua một tua từ người bán tua nước ngoài ở Mỹ để bù lại đã thu xếp cho mọt người bán tua trong nước dẫn đoàn sang Kê-ni-a. Người bán tua trong nước để đổi lại sẽ mua phí vào của vườn, Dịch vụ Ðời sống hoang dã Kê-ni-a được quản lý. Nói một cách khác, khách du lịch có thể lựa chọn để thu xếp chuyến đi trực tiếp với một người bán tua trong nước, hoặc để tiết kiệm tiền hoặc vì bà ta đã ở Kê-ni-a rồi. Hoặc, bà ta có thể tự mình đi trước sử dụng một người điều hành ủng hộ tự bà ta du lịch tới vườn.

Nhiều quan sát viên nói lên mối quan tâm phần lớn về chi phí chuyến đi, và do vậy lợi ích kinh tế còn lại với những người điều hành tua ngoài nước và các hãng hàng không nước chủ nhà; các nguồn tài trợ lớn được chi tiêu vào công tác tiếp thị, hoa hồng và vận chuyển ngay cả trước khi khách du lịch tới được nơi mình muốn đễn.

Ví dụ

Tài chính của người điều hành tua ngoài nước

Massachusetts, Mỹ

Sorenson (1991) trình bày một bản nghiên cứu điển hình về Hãng Du lịch Mạo hiểm Hải ngoại (OAT), một hãng phục vụ tua nước ngoài ở bang Massachusettes. Vào năm 1989, OAT bán được tổng số $ 4.525.000 (tất cả các số liệu làm tròn), trong đó $ 1.400.000 cho vận chuyển hàng không và $3.027.000 cho các tua trên mặt đất. Các tua trên mặt đất chi phí $1.962.000 để cung cấp, với một lợi nhuận gộp từ sản phẩm này là $1.065.000 (xấp xỉ 86% của tổng lợi nhuận gộp của công ty). Phần lưon số lợi nhuận này để lại ở Mỹ thôgn qua việc phân bổ lương ($714.000), bán hàng và tiếp thị có liên quan ($496.000), và chi phsi hành chính/chung ($264.000). Sử dụng các số liệu nhân sách ban đầu từ năm 1990, các dòng ngân sách tiếp thị và bán hànhg chủ yếu là quảng cáo qua các phương tiện thông tin (6% của ngân sách tiếp thị và bán hàng), các quyển c-ta-lô và các công cụ bán hàng khác (43%), bưu phí (10%), chi phí điện đàm (6%) và hoa hồng cho các hãng du lịch (18%). Mặc dù tỷ lệ của nguồn thu tổng bán hàng thực sự chi tiêu trong nước tại các điểm toí không tính, nguồn thu phân bổ cho các tua mặt đất chiếm ít hơn nửa tổng số bán hàng.

clip_image001


Tương tụ, Brown và cộng sự (1995) tính toán rằng 40% chi tiêu của du khách ngoại quốc cho những chuyến đi tới những khu Vườn Quốc gia Hố Mana và Hwange ở Zimbabwe bị mất cho nước này vì các chi phí máy bay quốc tế. Có thể có nhiều cơ hội tăng phần chi phí chuyến đi toí được nơi dừng bằng cách, ví dụ, sử dụng các hãng hàng không trong nước của điểm dừng và đi vòng những người điều hành tua ngoài nước thông qua việc tiếp thị trực tiếp do các nhà điều hành tua trong nước và sự hấp dẫn (như Ho chi minh city Vietnam). Tuy thiên, người ta chú ý nhiều hon toí việc tăng chi tiêu một lần trong nước có điểm dừng, cũng như tăng tắc động của việc chi tiêu này đặc biệt lên cộng đồng địa phương.

Du lịch sinh thái và phát triển kinh tế - Ho chi minh city Vietnam

 

Du lịch sinh thái đã nắm giữu rất nhiều cơ hội để tạo nguồn thu và công ăn việc làm.tại các khu vực khá là nguyên sơ bằng những nỗ lực phát triển truyền thống, và để sinh ra những lợi ích kinh tế hữu hình từ các khu vực thiên nhiên. Có ít nhất ba lý do để gây những lợi ích địa phương như vậy. Thứ nhất sẽ là hợp lý chùng nào mà công tác bảo tồn của khu vực phân định cho du lịch sinh thái có thể giảm bớt hay xoá bỏ việc sử dụng tài nguyên truyền thống tại Ho chi minh city Vietnam. Thứ hai, các nhà du lịch sinh thái, cũng như những người tiêu thụ, có thể hỗ trợ tầm quan trọng của du lịch làm lợi cho người dân địa phương (Eaglé và cộng sự, 1992). Thứ ba, khi người đân nhận được lợi ích họ có thể hỗ trợ ngành du lịch và công tác bảo tồn hơn, ngay cả tới điểm bảo vệ điểm tham quan chống lại sự săn bắn trộm hay sự xâm phạm khác. Ví dụ, Lindberg vầ cộng sự (1996) tìm thấy là rằng các lợi ích liên quan tới du lịch sinh thái là một nền tảng rất quan trọng đối với những thái độ địa phương tích cực về các khu vực thiên nhiên lân cận (Wunder, 1996; 1998). Ngược lại, nếu người dân chịu những chi phí mà không nhận được lợi ích thì họ có thể quay lưng lại với ngành du lịch và công tác bảo tồn, và có thể cố ý hoặc vô ý phá hoại địa điểm tham quan. Bất kể các lợi ích của du lịch sinh thái có dẫn đến sự ủng hộ tăng lên đối với công tác bảo tồn và, cuối cùng tói những thay đổi trong việc sử dụng phu thuộc vào các hoàn cảnh khác nhau (Brandon, 1997; Brandon và Wells, 1992).
Ðóng góp của du lịch sinh thái đối với sự phát triển nền kinh tế địa phương khác nhau, và có nhận thức chung là sự đóng góp nàycó thể đwocj tăng lên tại nhiều điểm tham quan. Hơn nữa, ngành du lịch cũng có thể tạo ra những chi phí kinh tế, như lạm phát, và những chi phsi này có thể ảnh hưởng tới tất cả nhữung dân địa phưưong, bao gồm cả những người không nhận được lợi ích. Phần này chủ yếu rà soát những khái niệm và đóng góp hiện tại của du lịch sinh thái đối với sự phát triển kinh tế, và sau đó mô tả những cơ hội làm tăng sự đóng góp này.
Hiểu biết về đóng góp của du lịch sinh thái đối với sự phát triển kinh tế cần một sự hiểu biết về công nghiệp du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái Ho chi minh city Vietnam tất nhiên là khác biệt rất lớn; nó chứa đựng mọi thứ từ việc chi tra các hãng du lịch hàng ngàn đô la cho những chuyến đi tới nơi xa nhất của địa cầu toí đi bộ thuần tuý toí một công viên gần đó. Tuy nhiên, để đơn giản hoá các vấn đề, điều bổ cíh là suy nghĩ về du lịch sinh thái là được cấu thành bởi ba thành phần. Thứ nhất là người điều hành tuyến nước ngoài bán tua cho các du khách quốc tế ở tại nước chủ nhà. Thứ hai là người điều hành tuyến trong nước thực sự tổ chức và dẫn tua tới nước điểm dừng. Thứ ba là đang tham quan sự hấp dẫn.

Sự đối lập từ Ho chi minh city Vietnam

Thứ năm, truyền thông với ngành công nghiệp bị ảnh hưởng và các nhóm người sử dụng khác có thể giảm bớt sự đối lập từ Ho chi minh city Vietnam. Hy vọng nhất trí và chấp thuận hoàn toàn các loại phí là phi thực tế, nhưng có thể cải thiện khả năng chấp thuận bằng sự hợp tác có ý nghĩa với các nhóm người sử dụng. Kết quả có thể của sự cộng tác như vậy là nhận thức tầm quan trọng của việc thực hiện theo giai ddoạn các loại phí (hay tăng phí) để cho ngành công nghiệp có thể theo đó mà điều chỉnh giá cả của mình. Ví dụ, năm 1996 phí bảo dưỡng môi trường đánh trên các tua thương mại đối với các nhà du lịch sinh thái tham quan Rạn Trưưòng San hô Ho chi minh city Vietnam tăng từ UA$1.00 ($0.70) lên tới AU$5.00 ($3.50). Ngành công nghiệp phản đối mạnh mẽ việc tăng giá. Một phần, việc phản đối đã đưa đến kết quả là tầm quan trọng của việc tăng giá, nhưng cũng còn là thời gian không cho phép các người điều hành hợp nhất thay đổi vào trong giá cả tua bán trước cả một năm hay hơn nữa (vấn dề tương tự cũng xảy ra ở Costa Rica nơi các loại phí bị thay đổi bất ngờ sau khi bầu cử chính phủ mới). Ðề xuất chung của ngành công nghiệp là thông báo trước 18 tháng. Tạo một số nước, nhành công nghiệp phản đối việc thu phí vì do công tác quản lý các nguồn thu bị cho là tham nhũng. Do du khách cung suy nghĩ như vậy, ngành công nghiệp mong muốn nhìn thấy những lợi ích từ các nguồn thu được.
Thứ sáu, thực tế là các loại phí giảm mạnh sự tham quan có nghĩa là có thể sử dụng các loại phí như là một công cụ quản lý. Các phí cao hơn có thể được tính ở những địa điểm quen thuộc, trong thời điểm đông khách, để khuyến khích mọi người tới thăm những địa điểm ít quen thuộc hơn, và ít tiền hơn. Ðương nhiên, điều này sẽ hiệu quả chỉ khi các loại phí làm giảm bớt sự tham quan. (Như đã nêu trên, các loại phí có thể cần được nâng tới các mức độ cao để có được nhiều mặt của một kết quả). Chúng có thể hiệu quả hơn khi được áp dụng trong một hệ thống khu vực thiên nhiên mà khu vực Ho chi minh city Vietnam bao gồm nhiều điểm thay thế, trong trường hợp mà các loại phí có thể có ảnh hưởng lớn đối với các địa điểm cá nhân đơn lẻ.
Cuối cùng, xây dựng và duy trì các hệ thống quản lý tài chính và kế toán chính xác cho cả các nguồn thu và các khoản chi tạo ra thông tin cần thiết để ra những quyết định có hiệu quả trong tương lai. Một cách có liên quan là công tác giám sát hệ thống phí, bao gồm các nguồn thu và các mức độ tham quan cung cấp phương tiện để làm được những thay đổi thích hợp khi các mục tiêu không đạt được (Xem Rừng Quốc gia Siuslaw,trang 100).

Địa điểm tham quan Ho chi minh city Vietnam

Thứ tư, đối lập với những loại phí sẽ dẫn tới kết quả là một phần vì du khách có thể xem đó là không công bằng, hay cảm thấy là chũng sẽ không nhận các lợi ích từ việc chi trả những loại phí như vậy (McCarville và cộng sự, 1996). Các địa điểm tham quan Ho chi minh city Vietnam có khả năng tăng sự chấp thuận của du khách về các loại phí bằng cách giải thích mục đích của chúng , đặc biêt chú ý xem các loại phí có sẽ được sử dụng không và được sử dụng như thế nào để tăng cường các dịch vụ cho du khách. Ví dụ, ở bang Tasmania, Ho chi minh city Vietnam, các vườn quốc gia và các khu bảo tồn hướng dẫn của du khách (1993) ghi là tất cả các nguồn tài trợ có được từ các loại phí sẽ được tái đầu tư để đảm bảo các cơ sở được cải thiện như đường xá, nhà trọ, các khu vực dã ngoại, khu vệ sinh và các con đường đi bộ tốt hơn. Tuy vậy, Laarman và Gregrsen (1996) báo cáo một bản nghiên cứu của Bary (1992) ở Tikal, Guatemela, trong đó không thấy một mối quan hệ nào giữa việc sẵn lòng chi trả các loại phí cao hơn và thông tin về mục đích của phí.

Rừng Quốc gia SIUSLAW,

Về lịch sử mà nói, Dịch vụ Rừng ở Mỹ đã được Quốc hội Mỹ công nhận chỉ tính phí dựng lều trại. Các mục tiêu quản lý trước hết tập trung vào không làm giảm lương ở khu vực tư nhân, do vậy người ta đã tiến hành đánh giá thị trường, và các khảon phí được để xấp xỉ ở mức như các khu đát dựng tại của khối tư nhân.
Năm 1996, Quốc hội công nhận Dịch vụ Rừng, cũng như các cơ quan liên bang khác, để thực hiện các dự án thử nghiệm phí trên du khách trong ba năm (Luật Công cộng trang 104-134). Ðiều này cho phép dịch vụ tính các loại phí không dựng trại, bao gồm cả các loại phí vào cửa. tại Rừng Quốc gia Siuslaw, mục tiêu quản lý là thu hồi một phần các chi phí điều hành. Ngành quản lý đã nghiên cứu các loại phí được tính tại các địa điểm khác (trứoc tiên là các địa điểm Vườn Bang ORGEGON), và đánh giá các khoản phí sẽ phải tính trả cho việc thu hồi chi phí hoàn toàn. Phí thu hội chi phí hoàn toàn bị xem là quá cao, vì vậy người ta đặt mức thu hồi từng phần. Ðiều này minh họa bản chất năng động của các mục tiêu và kiến thức của nhu cầu du khách; nhu cầu này có thể cản trở các mục tiêu đạt được.
Cơ cấu phí bao gồm một loại phí giá $3 một xe ô tô ($3/người tại một điểm thu hút du khách trên xe buýt) hay một khoản vé cả năm là #25. Ðịa điểm duy trì 80% nguồn thu (phân bổ vốn truyền thống của chính phủ không bị giảm xuống là môtj kết quả của việc tiến hành các loại phí này, mặc dù nó có thể bị giảm do những cắt giảm về ngân sách nói chung). Nguồn thu bổ xung sẽ được sử dụng để nâng cao các dịch vụ và cơ sở và điều này cũng được giải thích với du khách Ho chi minh city Vietnam để giảm bớt sự kháng cự đối với phí vào cửa tại các địa điểm mà về mặt lịch sử mà nói thì không tính các loại phí như vậy. Dự án này không chỉ minh họa làm thế nào có thể tiến hành các loại phí mà còn cho thấy các cơ quan quản lý khu thiên nhiên có thể tiến hành phương hướng kinh doanh như thế nào đối với du lịch sinh thái, bao gồm cả việc phát triển cá kế hoạch kinh doanh (Rừng Quốc gia Siuslaw, 1996.)

Các vấn đề chính sách phí khác - Ho chi minh city Vietnam

 
Phần cuối này nêu ra cá vấn đề và những đề xuất chung khác thích hợp với chính sách phí. Ðầu tiên, hệ thống phí tốt nhất đối với bất cứ khư vực đặc biệt nào sẽ phụ thuộc vào loại hình và mức độ tham quan, mức độ hợp tác với ngành công nghiệp, ảnh hưởng của sự quan liêu và các nhân tố khác. Do vậy, trong khuôn khổ các mục tiêu tổng thể, sự mềm dẻo cần được tạo ra cho mỗi điểm để thực hiện cơ cấu phí thích hợp nhất theo các điều kiện địa phương (vì một cơ cấu phí đơn cho toàn bộ hệ thống vườn có thể không hiệu quả); ví dụ, phí vào cổng mua trước ở Ho chi minh city Vietnam, dao động từ $5 khi vườn có ít khách tham quan tới $10 khi vườn có đông khách) Chase, 1996; Costa Rica TravelNet, 1997).
Nếu chính quyền phụ trách chính sách phí giữ nguyên với cơ quan quản lý trung ương, khả năng thay đổi các phí ít ra cũng duy trì càng mềm dẻo càng tốt. Ví dụ, chi nhán điều hành, như cơ quan vườn, nói chung có thể ứng phso nhanh hơn chi náh hành pháp, như nghị viện hay quốc hội (Barborak, 1988). Cũng như vậy, kinh nghiệm gợi ra ít ra giao phó một phần thu nhập phí của du lịch sinh thái lại cho bản thân địa điểm tham quan làm tăng cường hiệu quả quản lý trong việc thu phí, cũng như trách nhiệm chi tiêu.
Thứ hai, thu nhập từ phí cần phải được xem như là một nhân tố bổ xung hơn là thay thế cho, những phân bổ nhân sách hiện tại. Nếu việc phân bổ ngân sách hiện tại bị giảm xuống do thu nhập từ du lịch tăng lên thì lợi ích tài chính của việc thu phí bị mất đi. Thực ra, các chi phí cơ sở hạ tầng và quản lý do việc thực hiện hệ thống thu phí mang lại thì có thể giảm nguồn tài trợ hiện có. Hơn nữa, ngành du lịch thay đổi một cách cố hữu, và sự không ổn định của các nguồn thu du lịch có thể lớn hơn sự không ổn định của các nguồn tài trợ chính phủ. Vì lý do này, cần phải xây dựng các nguồn tài trợ từ của tập đoàn khi có thể để đảm bảo nguồn tài trợ liên tục trong khi các điểm thấp trong các chu kỳ du lịch (có thể khó xây dựng nếu các cơ quan chính phủ quen với các chu kỳ ngân sách hàng năm). Các cơ hội để tăng các nguồn thu không phí đối với các khu vực thiên nhiên, như thông qua các chương trình quyên góp hay bán đồ hàng lưu niệm, cần được đánh giá, vì chúng có thể tạo ra nhiều nguồn tài trợ bổ xung rất lớn.
Thứ ba, các loại phí và các giá cả du lịch sinh thái Ho chi minh city Vietnam không chỉ bị ảnh hưởng bởi nhu cầu, mà còn ảnh hưởng tói nhu cầu, do bởi chúng có vai trò như các dấu hiệu chất lượng sản phẩm đối với du khách chưa quen với sản phẩm. Ví dụ, một nhà trọ giá cao có thể hấp dẫn hơn nhà trọ giá thấp đối với những du khách tìm kiếm một sự tiện nghi tương đối cao. Ðương nhiên, nếu nhà trọ hay địa điểm tham quan không có được chất lượng tương đương với giá cả, nó làm cho khách sợ hãi không muốn quay trở lại và rất nhiều miệng tiếng.

Khách du lịch Ho chi minh city Vietnam

Ðối với các địa điểm ra vào nhiều lần hay dung lượng khách thấp, việc thu phí trực tiếp có thể không thực tế. Thay vì đó, một hệ thống danh dự, có các hộp bỏ tiền trả, hay hệ thống phiếu vào có lẽ thích hợp. Ví dụ, bang Tasmania ở HO CHI MINH CITY VIETNAM SỬ DỤNG PHIẾU VÀO cửa cho du khách tiếp cận với bất cứ vườn quốc gia nào trong số 14 vườn của bang. Kiểm tra điểm dừng có thể cần thiết để tăng cường công tác tuân thủ quy định với những hệ thống như vậy.
Một phương pháp khác là thu phí gián tiếp thông qua những người điều hành tua, với chi phí thường đi kèm với khách du lịch Ho chi minh city Vietnam là một phần của giá tua trọn gói. Khả năng này thường được sử dụng cùng với việc thu phí trực tiếp. Các lợi ích từ việc gián thu bao gồm: 1) tiềm năng tăng cường thông tin giữa vườn và ngành công nghiệp du lịch địa phương, 2) giảm bớt các chi phí hành chính cho vùng tự nhiên trong khi vẫn cho phép giám sát được các mức độ tham quan, và 3) tiềm năng giấu các phí trong chi phí của tua trọn gói, do đó có thể giảm bớt tác động cảu các loại phí cao hơn với các cấp độ tham quan. Mặt hạn chế của gián thu là giảm bớt tiếp xHo chi minh city Vietnam giữa nhân viên vườn và du khách.

Tập đoàn bảo tồn khu vực bảo tồn

Tập đoàn bảo tồn khu vực bảo tồn (PACT) tham gia vào phí bảo tồn $3.75 đối với tất cả các du khách ngoại quốc, được gia tăng vào thuế sân bay khi đi trước đó là $11.25. Dựa trên tính toán 140,000 du khách ngoạ quốc một năm, chương trình mới được thực hiện gần đây kỳ vọng hàng năm gây được $ 500,000. Tập doàn độc lập với chính phủ và do một ban bao gồm các đại diện của cả chính phủ và phi chính phủ chỉ đạo. Tài trợ cảu PACt có thể được sử dụng cho các mục đích đa dạng, bao gồm đào tạo, giáo dục môi trường, hoạch định khu bảo tồn, và hỗ trợ cơ cấu tổ chức, nhưng không có ý định thay thế tài trọ chính của chính phủ.
Không cần phải đánh giá quá thấp khó khăn xây dựng một quỹ như vậy - chương trình đã phát triển được 5 năm, bằng kết thHo chi minh city Vietnam khác xa với đề xuất ban đầu. Hơn nữa, vì ngành du lịch ở Belize chủ yếu dựa vào nhữung nét hấp dẫn về văn hóa và thiên nhiên, có minh chungứ khá rõ đối với việc bắt buộc thu mọtt loại phí như vậy từ khách du lịch. Ðiều này sẽ không phải là trường hợp áp dụng cho tất cả các nước. do vây, PACt là một ví dụ tuyệt vời về tài chính sáng tạo đối với công tác bảo tồn, và các nước khác đang tìm tòi những chương trình tương tự. Thông tin thêm về PACt do Spergel (1996) cung cấp.
clip_image001
Một khả năng nữa là thu từ các thành phần khác của nhành công nghiệp du lịch. Khă năng này thường dựa vào các loại thuế khách sạn hay vận chuyển và tạo ra những lợi thế tương tự như việc thu phí điều hành tua Ho chi minh city Vietnam. Ví dụ, ở bang Montana, 6.5% thu nhập thuế đánh trên giường khách sạn đưa vào quản lý các khu vườn của bang. Tuy vậy, để đạt được sự chấp thuận của ngành công nghiệp, có thể quyết định đối với các loại phí bắt buộc phải trả chỉ khi có mối liên hệ tương quan giữa các loại phí và sự sử dụng khu vực thiên nhiên.

Phí giá vé vào cửa Ho chi minh city Vietnam

Dựa trên bảng tính trung bình, họ đã ước tính các chi phí du lịch liên quan là 46.894 đô la BZ(23.447 đô la Mỹ) tại khu bảo tồn động vật hoang dã vịnh Cockscomb trong khoảng thời gian từ tháng Tư 1991 đến tháng Tư 1993. Lợi nhuận ước tính liên quan đến du lịch sinh thái, trước tiên từ phí và tài trợ là 42.213 đo la BZ vậy số tiền thiếu hụt là 4.681 đô la BZ. Nếu mục tiêu thu hồi chi phí được thực hiện đến cùng thì những số liệu trên sẽ cho phép ước tính giá một vé vào cửa. Trong trường hợp này, nếu sử dụng số liệu khách thăm quan năm 1992 là 2.968 khách nước ngoài thì để thu hồi chi phí giá vé vào cửa Ho chi minh city Vietnam cho người nước ngoài là 1,6 đô la BZ (0,8 đô la Mỹ) (không tính phí cho cư dân). Bởi vì phí này quá thấp nên người ta không mong đợi cắt giảm thăm quan. Tính toán này dựa trên những điểm đơn lẻ về nhu cầu và chi phí hơn là dựa trên toàn bộ đường cong giữa cung và cầu tuy nhiên nó đã phản ánh được việc sử dụng những thông tin này như thế nào để đặt ra phí. Việc sử dụng rộng rãi hơn dữ liệu về chi phí đã được đề xuất trong các quyết định phân bổ ngân sách và giá cả (ví dụ các công viên quốc gia ở New South Wales và Dịch vụ tham quan động vật hoang dã, 1997).
clip_image001
Các loại phí
Ngay khi toàn bộ các chính sách về phí đã được xác định các nhà quản lý phải định ra từng loại phí cho các hàng hoá và dịch vụcũng như cách thu chúng mặc dù có vài sự chồng chéo trong thuật ngữ nhưng dưới đây là một vài loại phí phổ biến:
ã Phí vào khu tham quan - được thu khi du khách vào khu vực
ã Phí vào cửa-được trả để vào các nơi cụ thể như là các trung tâm đón tiếp du khách
ã Phí sử dụng- được trả cho viẹc sử dụng các vật dụng cụ thể (như là các thiết bị cho thuê) hay các cơ hội (như là các điểm cắm trại)
ã Phí đăng ký và cho phép - tương tự như phí sử dụng; bao gồm việc cho phép săn bắn và câu cá.
ã Bán và chuyển nhượng - bao gồm những lợi nhuận từ việc bán trực tiếp quà lưu niệm, cho thuê chỗ trọ và các hàng hoá hay dịch vụ khác; phí từ việc chuyển nhượng các thương vụ tư nhân trong việc bán các mặt hàng và dịch vụ Ho chi minh city Vietnam; và thu nhập từ việc đăng ký các nhãn hiệu thương mại và biểu trưng của khu tự nhiên.
Ngoài các loại phí khác nhau, còn có nhiều phương pháp khác nhau để thu phí. Phương pháp rõ ràn nhất là thông qua việc thu ngay trực tiếp tại chỗ, như khi vào một điểm hay khi mua bán một loại dịch vụ hay hàng hoá. Các loị ích của phương pháp này là: 1) mối liên kết trực tiếp giữa trả phí và dịch vụ được cung cấp, và 2) cơ hội để thông báo, quy định và đếm số lượng khách. mặt hạn chế của việc thu trực tiếp là phí tổn.